Góp ý cải thiện

Có gì sai, còn thiếu hay đáng bổ sung? Chúng tôi đọc hết.

Nội dung góp ý

Cảm ơn bạn — chúng tôi đã nhận

Chúng tôi đọc hết. Nếu bạn để lại email, chúng tôi sẽ báo lại khi nội dung được cập nhật.

Zambia

Một vùng non trẻ do đồn điền dẫn dắt trên cao nguyên phía bắc, sản lượng tính bằng vài trăm nghìn bao.

Sản lượng
0,1 triệu bao (60 kg)
Độ cao
900–1.700 m
Thu hoạch
Tháng năm–Tháng tám

Số liệu sản lượng thuộc năm dương lịch 2024.

Tổng quan

Zambia là một trong những vùng cà phê mới nhất châu Phi: việc trồng thương mại chỉ bắt đầu từ thập niên 1950, bằng hạt giống mang từ Kenya và Tanzania. Cây tập trung trên cao nguyên phía bắc quanh Kasama và ở tỉnh Muchinga, cùng một cụm nông trại lớn thứ hai trên cao nguyên trung phần gần Lusaka và Kabwe.

Khác với phần lớn Đông Phi, ngành ở đây do đồn điền dẫn dắt chứ không phải nông hộ nhỏ. Một số tương đối ít nông trại lớn, cơ giới hóa, làm ra phần lớn sản lượng — điều này tạo ra độ ổn định hiếm thấy, cà phê Zambia thường được sơ chế đều tay, nhưng cũng khiến con số quốc gia nhạy cảm với vận mệnh của từng doanh nghiệp riêng lẻ. Sản lượng đã dao động mạnh theo cả hai hướng trong hai chục năm qua đúng vì lý do đó.

Các vùng trồng

  • Arabica

Tỉnh được tô màu có vùng trồng bên trong; cà phê chỉ chiếm một phần diện tích.

1.200–1.700 m
Arabica

Cao nguyên Kasama — vùng trồng lớn nhất, và là trung tâm của khối nông hộ nhỏ.

Thu hoạch
  1. T
  2. T
  3. T
  4. T
  5. T
  6. T
  7. T
  8. T
  9. T
  10. T
  11. T
  12. T
Ướt SL28 Bourbon Catimor Java

900–1.400 m
Arabica

Những đồn điền lớn quanh Lusaka và Kabwe.

Thu hoạch
  1. T
  2. T
  3. T
  4. T
  5. T
  6. T
  7. T
  8. T
  9. T
  10. T
  11. T
  12. T
Ướt Khô SL28 Catimor Castillo

Hương vị trong tách

Sạch vị và ngăn nắp chứ không hoang dã: hậu vị vừa phải, độ chua cam quýt và táo đỏ nhẹ nhàng, vị ngọt caramel hoặc sô cô la sữa rõ ràng. Các giống SL gốc Kenya cho những lô tốt hơn một nét lý chua đen, nhưng tổng thể vẫn mềm và tiết chế hơn Kenya.

Caramel Sô cô la Cam chanh Cân bằng

Lịch sử

Cà phê được đưa vào trồng thương mại trong thập niên 1950 dưới thời Anh, bằng giống từ các vùng trồng Đông Phi đã có sẵn. Vốn đầu tư từ ngân hàng phát triển mở rộng khu vực đồn điền suốt thập niên 1980 và 1990; giá thế giới thấp đầu những năm 2000 đóng cửa nhiều nông trại trong số đó, và đà hồi phục từ đó đến nay đến từ một số ít doanh nghiệp có vốn tốt cộng với một chương trình nông hộ nhỏ đang lớn dần ở phía bắc.

Góp ý

Nội dung này có hữu ích không?

Góp ý cải thiện

Có gì sai, còn thiếu hay đáng bổ sung? Chúng tôi đọc hết.

Nội dung góp ý

Cảm ơn bạn — chúng tôi đã nhận

Chúng tôi đọc hết. Nếu bạn để lại email, chúng tôi sẽ báo lại khi nội dung được cập nhật.

Nguồn

  1. Food and Agriculture Organization of the United NationsCrops and livestock products — Coffee, green (2024) (đọc ngày 31 Tháng tám, 2026) Nguồn cho Sản lượng Reported in tonnes of green coffee; converted to 60 kg bags at 1 t = 16.67 bags.
  2. International Coffee OrganizationHistorical Data on the Global Coffee Trade (đọc ngày 24 Tháng tám, 2026)
  3. World Coffee ResearchArabica Coffee Varieties (đọc ngày 24 Tháng tám, 2026) Nguồn cho Giống

Đường biên các nước và bóng đổ địa hình lấy từ Natural Earth, thuộc phạm vi công cộng.

Dấu vùng trồng chỉ mang tính khu vực. Đó không phải toạ độ nông trại đã đo đạc và không nên hiểu như vậy.