Góp ý cải thiện

Có gì sai, còn thiếu hay đáng bổ sung? Chúng tôi đọc hết.

Nội dung góp ý

Cảm ơn bạn — chúng tôi đã nhận

Chúng tôi đọc hết. Nếu bạn để lại email, chúng tôi sẽ báo lại khi nội dung được cập nhật.

Malawi

Nơi Arabica được trồng đầu tiên ở Đông Phi — và vẫn là một trong những vùng sản xuất nhỏ nhất khu vực.

Sản lượng
0,2 triệu bao (60 kg)
Độ cao
900–2.000 m
Thu hoạch
Tháng tư–Tháng chín

Số liệu sản lượng thuộc năm dương lịch 2024.

Tổng quan

Cà phê Malawi là một vụ mùa nhỏ, trồng trong vài túi vùng cao hẹp: đồi Misuku ở cực bắc, cao nguyên Viphya và vùng cao Nkhata Bay dọc theo hồ, rồi Thyolo và Mulanje ở cực nam. Chè, thuốc lá và mía đều mang về nhiều ngoại tệ hơn; cà phê là sản phẩm đặc sản chứ không phải sản phẩm sản lượng.

Tầm quan trọng lịch sử của nó thì lớn hơn hẳn quy mô. Một cây Arabica con mang từ vườn bách thảo Edinburgh tới Blantyre năm 1878 là khởi điểm được ghi chép của việc trồng Arabica thương mại ở Đông Phi, và giống từ Malawi đã gieo cho những vùng trồng khác trong khu vực. Nước này cũng trồng một lượng Geisha đáng kể, có mặt từ hàng chục năm trước khi giống này nổi tiếng ở Panama, bên cạnh các dòng Agaro và Nyasaland cũ.

Các vùng trồng

  • Arabica

Tỉnh được tô màu có vùng trồng bên trong; cà phê chỉ chiếm một phần diện tích.

1.500–2.000 m
Arabica

Cực bắc gần biên giới Tanzania — cao nhất và thơm nhất.

Thu hoạch
  1. T
  2. T
  3. T
  4. T
  5. T
  6. T
  7. T
  8. T
  9. T
  10. T
  11. T
  12. T
Ướt Geisha Agaro Bourbon Catimor

1.000–1.700 m
Arabica

Cao nguyên phía bắc và vách núi phía trên hồ Malawi.

Thu hoạch
  1. T
  2. T
  3. T
  4. T
  5. T
  6. T
  7. T
  8. T
  9. T
  10. T
  11. T
  12. T
Ướt Geisha Agaro Catimor Nyasaland

900–1.600 m
Arabica

Các đồn điền phía nam, trên sườn dưới chân núi Mulanje.

Thu hoạch
  1. T
  2. T
  3. T
  4. T
  5. T
  6. T
  7. T
  8. T
  9. T
  10. T
  11. T
  12. T
Ướt Khô Catimor Bourbon Nyasaland

Hương vị trong tách

Nhẹ và sạch vị, với nét hương hoa thanh mảnh cùng độ chua cam quýt hoặc trái cây có hạt cứng — gần với một ly Ethiopia dịu hơn là với kiểu Kenya mạnh mẽ mà người đọc có thể trông đợi ở khu vực này. Các lô đồi Misuku thơm nhất; hàng phía nam từ Thyolo thì tròn và bùi hạt hơn.

Hương hoa Cam chanh Như trà Trái cây hạch

Lịch sử

Cà phê đến năm 1878 tại trạm truyền giáo Blantyre và lan nhanh tới mức Nyasaland có một thời gian ngắn là nước xuất khẩu đáng kể, trước khi dịch bệnh và sự cạnh tranh từ Brazil làm sụp đổ hoạt động buôn bán này vào khoảng đầu thế kỷ 20. Ngành được dựng lại trong thế kỷ 20 quanh các đồn điền ở phía nam và hợp tác xã nông hộ nhỏ ở phía bắc, và đó về cơ bản vẫn là cấu trúc hiện nay.

Góp ý

Nội dung này có hữu ích không?

Góp ý cải thiện

Có gì sai, còn thiếu hay đáng bổ sung? Chúng tôi đọc hết.

Nội dung góp ý

Cảm ơn bạn — chúng tôi đã nhận

Chúng tôi đọc hết. Nếu bạn để lại email, chúng tôi sẽ báo lại khi nội dung được cập nhật.

Nguồn

  1. Food and Agriculture Organization of the United NationsCrops and livestock products — Coffee, green (2024) (đọc ngày 31 Tháng tám, 2026) Nguồn cho Sản lượng Reported in tonnes of green coffee; converted to 60 kg bags at 1 t = 16.67 bags.
  2. International Coffee OrganizationHistorical Data on the Global Coffee Trade (đọc ngày 24 Tháng tám, 2026)
  3. World Coffee ResearchArabica Coffee Varieties (đọc ngày 24 Tháng tám, 2026) Nguồn cho Giống

Đường biên các nước và bóng đổ địa hình lấy từ Natural Earth, thuộc phạm vi công cộng.

Dấu vùng trồng chỉ mang tính khu vực. Đó không phải toạ độ nông trại đã đo đạc và không nên hiểu như vậy.